Vấn Đề Hôn Nhân Đồng Tính và Tự Do Tôn Giáo

Vấn Đề Hôn Nhân Đồng Tính và Tự Do Tôn Giáo

Chủ đề:
5006a - Tôi định vào trang Liên đoàn công giáo để góp ý về ghi chú của BS Nguyễn tiến Cảnh, nhưng rất tiếc trang web đó không cho độc giả phản hồi.Tôi xin mượn trang web này để góp ý cá nhân tôi, xin thông cảm.

>>liendoanconggiao.net

Bài viết của bác sĩ Cảnh có đoạn như sau:

Trích:
Tờ Washington Post ngày 27-5-2009 đã nêu rõ 4 tiểu bang thuộc miền Đông Bắc Hoa Kỳ, trừ Iowa , đã công nhận hôn nhân đồng tính là do quyết định của tối cao pháp viện tiểu bang chứ không phải do cơ quan lập pháp.[1]

và ông ghi phụ chú rồi tự đặt câu hỏi ở cuối bài:

Trích:
[1] Theo nguyên tắc, Tối cao pháp viện / Tòa án có nhiệm vụ giảng giải và cắt nghĩa luật, còn quốc hội/cơ quan lập pháp mới có quyền làm ra luật. Ở đây TCPV lai tự động làm ra luật thì phải chăng là đã lạm dụng quyền?.

Xin thưa Bác sĩ, có lẽ bác sĩ không được khách quan cho lắm với ghi chú trên và gây nên hiểu lầm cho đọc giã nhất là những đọc giã trẻ.

Tòa Thượng thẩm tại các tiểu bang, (cũng như Tối cao Pháp Viện Hoa kỳ) không có làm ra luật nào để công nhận hôn nhân đồng tính. Quý vị Thẩm phán chỉ căn cứ vào Hiến pháp của tiểu bang để kết luận: "luật cấm hôn nhân đồng tính là vi phạm hiến pháp của tiểu bang". Hiến pháp các tiểu bang trên không có điều khoản nào buộc hôn nhân phải là sự kết hợp giữa hai người nam và nữ. Cho nên hôn nhân đồng tính không có vi hiến, trái lại cấm hôn nhân đồng tính mới là vi hiến. Phụ chú của bác sĩ đã tạo nên sự hiểu lầm nội dung Hiến pháp của các tiểu bang nêu trên, đồng thời xuyên tạc phán quyết của tòa và tư cách của quý vị Thẩm phán cũng như hệ thống phân quyền của nước Hoa kỳ. Riêng việc những nhà thờ và tín đồ thuộc các hệ phái Thiên Chúa giáo cực đoan chống lại hôn nhân đồng tính, rõ ràng là họ đã áp đặt đức tin cá nhân của họ lên những tầng lớp xã hội khác với họ. Có lẽ bác sĩ nên đặc biệt quan tâm đến sự kiện này hơn để cùng mang đến công bằng xã hội nơi bác sĩ đang sống.

Còn thế nào là tự do tôn giáo, có thực tôn giáo có quyền tự do nào không?

Xin vui lòng đọc Điều thứ 18 trên bản Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền ngày 10 tháng 12 năm 1948:

Article 18.-Everyone has the right to freedom of thought, conscience and religion; this right includes freedom to change his religion or belief, and freedom, either alone or in community with others and in public or private, to manifest his religion or belief in teaching, practice, worship and observance.(Ðiều 18.-Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo, quyền này bao gồm quyền tự do thay đổi tôn giáo hay niềm tin, cũng như quyền tự do, tự mình hay chung với người khác, biểu hiện tôn giáo hay niềm tin của mình nơi riêng tư hay công cộng, thông qua thuyết giảng, thực hành, thờ cúng và thực hiện các nghi lễ. - Ông Võ văn Ái dịch, nhà xuất bản Quê Mẹ, Paris).

Đoạn văn "Everyone has the right to freedom of thought, conscience and religion;.." được hiểu là "Everyone has the right to freedom of thought, everyone has the right to freedom of conscience and everyone has the right to freedom of religion;.." ( Mỗi người đều có quyền tự do về tư tưởng, mỗi người đều có quyền tự do về tín ngưỡng và mỗi người đều có quyền tự do về tôn giáo) Nắm bắt cấu trúc đoạn văn như trên để có thể hiểu rõ ràng rằng mỗi người trên trái đất này đều có quyền "tự do về tôn giáo", chứ không phải "tự do tôn giáo", để rồi diễn dịch một cách hời hợt là "tôn giáo có quyền tự do". Đoạn văn kế tiếp xác định rõ hơn về điểm này: "this right includes freedom to change his religion or belief," (quyền này bao gồm tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng). Chứng tỏ bản chất tôn giáo không là chủ thể của hành động nên tự nó không có quyền gì hết, và từ "of " không có nghĩa trần trụi là "của" mà có nghỉa là "về". Khi bỏ sót từ "of " hoặc diễn dịch nó một cách nông cạn là "của", thiếu mất chiều sâu súc tích của văn tự, đưa tới cụm từ quen miệng "Tự do Tôn giáo" và quan niệm sai lệch rằng "Tôn giáo có quyền tự do". Và cũng để rõ ràng hơn, trong Phần III, Điều 18, Tiết 2 trên bản Công ước Quốc tế số 2200 A (XXI) ngày 16-12 1966 ghi rằng:

III.18.2 - No one shall be subject to coercion which would impair his freedom to have or to adopt a religion or belief of his choice. (Không một ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn một tôn giáo hoặc tín ngưỡng. Ông Võ văn Ái dịch, nhà xuất bản Quê Mẹ, Paris).

Xuyên qua những điều khoản ghi trong hai bản văn nêu trên, cộng đồng quốc tế chỉ đề cập và quan tâm đến quyền tự do của từng cá nhân về tôn giáo, tuyệt không có một đoạn nào nói rằng "tôn giáo có quyền tự do". Chỉ căn cứ vào một đoạn văn ngắn sẽ đưa đến suy diễn sai lệch và rồi gieo rắc cẩu thả vào tâm khảm tín đồ, làm thui chột kiến văn của họ. Tiết kế tiếp ngay sau đó, trên bản Công ước Quốc tế, đã minh định điều rất quan trọng mà hầu như quý vị lãnh đạo tôn giáo cố tình bỏ qua:

III.18.3 - Freedom to manifest one's religion or beliefs may be subject only to such limitations as are prescribed by law and are necessary to protect public safety, order, health, or morals or the fundamental rights and freedoms of others. (Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi những qui định của pháp luật và những giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hoặc những quyền và tự do căn bản của người khác. Ông Võ văn Ái dịch, nhà xuất bản Quê Mẹ, Paris)

Đoạn văn này minh chứng rõ ràng rằng cộng đồng quốc tế quan tâm và đặt chủ quyền của một nước lên trên tôn giáo, chứ không phải vì cộng đồng của một tôn giáo nào đó ỷ mình là đa số hay do quyền lực nào đó ủng hộ mà có quyền tự do hành sử bên trên luật pháp quốc gia nơi họ cư ngụ.

J.B. Võ Đông Cung