Quyền đồng tính cũng là nhân quyền

Quyền đồng tính cũng là nhân quyền

Chủ đề:
4593a - Nhưng ngay cả nước Mỹ, đất nước tự nhận là tự do, dân chủ và đảm bảo thực thi quyền công dân tốt nhất thế giới, thì quyền của người đồng tính cũng chưa được bảo đảm.

"Tôi là một người Do thái. Tại sao tôi không có đôi mắt của người Do Thái? Hay tại sao không có đôi tay, thân thể, tầm nhìn, giác quan, tình yêu thương hay sự đam mê của một người Do Thái? Chẳng phải tôi và những người theo đạo Cơ Đốc các anh đều cùng được nuôi dưỡng bởi một nguồn thức ăn, cùng bị tổn thương bởi một loại vũ khí, cùng có thể bị bệnh và được điều trị bởi cùng một số cách, được sưởi ấm vào mùa đông và quạt mái vào mùa hè đó sao? Nếu anh đâm tôi, tại sao tôi không chảy máu? Nếu anh thọc lét tôi, sao tôi lại không bật cười? Nếu anh đầu độc chúng tôi, tại sao tôi lại không chết? Và nếu như bạn làm gì sai với chúng tôi, tại sao chúng tôi không trả thù? Và nếu như tất cả mọi điều ở tôi đều như của người các anh thì tôi cũng chính là các anh" (Trích từ vở kịch The Merchant of Venice, tác giả William Shakespeare, Hồi 3, cảnh 1).

gay_rights-1.jpg picture by LT_TT

Cho dù dùng bất cứ tiêu chuẩn nào thì cuộc bầu cử năm 2004 của nước Mỹ là một sự kiện rất quan trọng. Bởi vì cùng với các lựa chọn bầu tổng thống và nghị viện thì công dân của 11 bang, bao gồm Arkansas, Georgia, Kentucky, Michigan, Mississippi, Montana, North Dakota, Ohio, Oklahoma, Oregon and Utah cũng bỏ phiếu đồng ý với sáng kiến cấm triệt để hôn nhân đồng giới. Cả 11 bang này đều tán thành ý kiến coi hôn nhân đồng giới là phạm pháp và rõ ràng quan điểm này cũng đồng với 27 bang đã chấp thuận điều này trước đó. Ở những bang này, ngay cả khi các tổ chức dân sự chống lại điều luật đó, thì ý kiến này vẫn ngăn cản thành công tính hợp pháp của các cuộc hôn nhân đồng giới.

Để tôi giải thích tại sao những quyết định tương tự lại sai, tai hại và mang lại những điều không may như thế nào.

Đơn giản là không có thứ hiến pháp nào, phương pháp nào có thể chối bỏ sự thật là, một số người bẩm sinh là gay và đến tuổi trưởng thành họ bị hấp dẫn bởi người cùng giới, yêu người ta và muốn chia sẻ cuộc sống với người đó trong một quan hệ có cam kết. Xã hội Mỹ dựa trên nền tảng các giá trị của đạo Cơ đốc và do đó, chẳng bao giờ tỏ ra dễ dàng với những điều hiển nhiên, không hề thuyên giảm này.

Nhưng rõ ràng, đã luôn có những người đồng tính trong xã hội trước đây và cũng sẽ luôn tồn tại những người đồng tính chừng nào còn có con người. Không có áp lực văn hóa và gia đình nào có thể làm cho một người đồng tính trở thành người không còn đồng tính nữa.

Thực tế thì chính dẫn chứng này cho thấy sở thích hay xu hướng tình dục được khẳng định bởi phần lớn (chứ không là tất cả) từ tiền đề sinh học như các gen, sự biến đổi của các hormone trước khi sinh… Những tiền đề này có thể bị kìm nén, nhưng không thể vượt qua được khi người ta đến tuổi trưởng thành. Không có bằng chứng nào cho thấy khả năng thành công của các liệu pháp nhằm định hướng lại giới tính ngoài việc thúc đẩy các giải pháp có tính chất “kìm nén nhu cầu tình dục, khoái cảm”.

Sự kiện nhiều bang ở Mỹ phủ nhận hôn nhân đồng tính cũng như nhiều quan điểm xã hội đều nhằm mục đích giảm bớt tình trạng tình dục đồng tính. Nhưng thực tế lại khác. Những cấm đoán này vốn và sẽ luôn luôn không hiệu quả... Thật vậy, kìm hãm hôn nhân đồng tính chỉ có thể làm tăng kỳ thị, phân biệt, gây tổn thương cho người đồng tính và tước đi quyền con người và quyền được yêu của họ mà thôi.

Quyền đồng tính cũng là nhân quyền

Trong khi các vấn đề hôn nhân đồng giới gần như dẫm chân tại chỗ thì tôi tin rằng, ít nhất đó cũng là vấn đề nhân quyền và quyền công dân. Nói theo nghĩa đen, vấn đề không nằm ở chỗ, người đồng tính có xứng đáng được mọi người thừa nhận họ là những người bình thường hay không, mà vấn đề nằm ở chính “chúng ta”. Nếu người đồng tính không hoàn toàn là con người (bất bình thường, tồi tệ, biến thái…), thì chúng ta có thể ngủ ngon hàng đêm khi từ chối họ những quyền cơ bản mà ta đang được hưởng. Còn nếu họ là những người bình thường, thì chúng ta đã chẳng hề làm gì ngoài việc giữ thái độ thành kiến khi không chấp nhận cho họ có những quyền mà chúng ta đang có.

gayflag.jpg picture by LT_TT

Các chuyên gia về sức khỏe tâm thần đã thống nhất trong việc xác định tính dục đồng giới là một biểu hiện tính dục bình thường của con người, và những người đồng tính là những người hoàn toàn bình thường như người có xu hướng tính dục dị giới, dù trong lịch sử, người ta đã từng không thừa nhận quan điểm này. Như trước năm 1974, tình dục đồng giới chính thức bị xếp vào nhóm rối loạn tâm thần. Tuy nhiên nhiều dẫn chứng khoa học từ các nghiên cứu cả trên người và động vật cho thấy, tính dục đồng giới là hiện tượng phổ biến và bình thường, không liên quan gì đến bệnh tâm thần.

Các bác sỹ tâm lí và bác sỹ tâm thần đều khẳng định, người đồng tính không phải là những kẻ biến thái, hư hỏng, lầm đường lạc lối, họ là những người bình thường, sống cuộc sống bình thường và chỉ có xu hướng tình dục khác mà thôi. Vì những kết quả này mà tình dục đồng giới đã được gạch tên khỏi danh sách các rối loạn tâm thần. Năm 2002, chương trình "Cuộc sống Mỹ" trên đài Tiếng nói Hoa Kỳ đã chỉ ra các tài liệu, sách vở viết về vấn đề này như thế nào trong câu chuyện "81 từ”. Tài liệu chính thức của Hiệp hội tâm lý Hoa kỳ về đồng tính, các bạn có thể xem ở đây (http://www.apa.org/topics/sorientation.html). Tương tự như vậy, bạn cũng có thể tham khảo nguồn tài liệu công bố chính thức về vấn đề này của Hiệp hội bác sỹ tâm thần Hoa Kỳ.

Mặc dù đồng tính luyến ái không phải là rối loạn tâm thần nhưng lại có rất nhiều vấn đề tâm thần nghiêm trọng xảy ra với nhóm bị phân biệt này. Xu hướng tình dục đồng giới thể hiện trong suốt giai đoạn thanh, thiếu niên tương tự như xu hướng tình dục dị tính. Theo Samhsa, người phát ngôn của chính quyền Mỹ về vấn đề sức khỏe tâm thần và lạm dụng thuốc thì: “Tỷ lệ tử vong ở nhóm này chiếm 13% tỷ lệ tử vong ở độ tuổi 15 đến 24. Năm 1996, có nhiều trẻ vị thành niên và thanh niên chết vì tự tử hơn chết vì ung thư, bệnh tim, AIDS, đột quỵ, viêm phổi, cúm, viêm phổi mãn tính, chết do đẻ non cộng lại. Theo Fleischer và Fillman (1995), báo cáo từ Bộ Y tế Mỹ năm 1989 về tỷ lệ tự tử ở thanh niên cho thấy, số thanh niên đồng tính nam và đồng tính nữ tìm cách tự tử cao gấp năm lần các nhóm khác. Nguy cơ này tăng lên do sự phân biệt đối xử và xa lánh của mọi người xung quanh, điều đó khiến họ thấy mình lạc lõng, bị từ chối, lo lắng, bối rối, xấu hổ và rồi cảm thấy suy nhược, tuyệt vọng, tự ti đến mức nhiều người tìm cách tự tử.

Vì thế, chính sự phân biệt đối xử với đồng tính gây ra các rối loạn tâm thần, sự chịu đựng lâu dài và đôi khi dẫn đến việc tự sát của người đồng tính.

Nếu không có dẫn chứng khoa học đáng tin cậy có thể chỉ ra cái gì là sai trái, lầm lạc ở người đồng tính, để biện minh cho hành động phân biệt, ngược đãi của cộng đồng, thì chính xác là cái gì đã khiến nhiều người từ chối quyền công dân, quyền được bảo vệ của người đồng tính? Tôi cho rằng việc từ chối quyền công dân của người đồng tính, trong đó có sự thừa nhận và bảo vệ mối quan hệ có cam kết của họ (thông qua hôn nhân) là điều hết sức vô lí. Và các bang vừa rồi đã đi vào con đường ngược với tinh thần mà rất nhiều ví dụ tiêu biểu trong lịch sử đã đưa ra. Nhà lãnh đạo đấu tranh đòi quyền công dân như Martin Luther King Jr là một ví dụ. Mặt khác thì các bang đó cũng đi ngược với tinh thần bảo về sức khỏe công dân cũng như sự thịnh vượng của một quốc gia.

Các phong trào đấu tranh đòi quyền công dân cũng cho chúng ta những bài học ở đây. Các quyền tự do chúng ta có hôm nay tưởng như là những sự thật hiển nhiên, nhưng rõ ràng là mới cách đây không lâu, điều đó đâu có rõ ràng như thế. Ví dụ, người Mỹ gốc Phi vẫn bị coi là tài sản, là nô lệ, không được coi là con người, không xứng đáng được hưởng các quyền của con người cho đến tận năm 1865. Rồi sau đó, ở rất nhiều nơi, họ vẫn bị coi như là những công dân hạng hai, không xứng đáng để được hưởng các quyền đáng kể cho đến tận những năm 1960. Hay phụ nữ không có quyền bỏ phiếu mãi đến năm 1920.

Mỗi cuộc cải cách đều là một cuộc đấu tranh đầy cay đắng với những người có đầu óc bảo thủ, những người có lẽ cũng cảm thấy tương tự như những người bỏ phiếu hôm nay đã làm là cho rằng, họ cần bảo vệ sự toàn vẹn (trật tự) của xã hội mà họ vốn biết rằng cái trật tự đó rồi cũng sẽ sụp đổ, cái rào cản đó rồi sẽ bị phá vỡ. Trong trường hợp người Mỹ gốc Phi, chỉ vì quyền sở hữu mà người ta đã miễn cưỡng quay đi, phủ nhận sự “khác biệt nhưng bình đẳng”, cũng không khác nào cách nhiều người hiện nay phản đối hôn nhân đồng giới. Điều đáng buồn nhất là ở chỗ, nhiều tổ chức bảo vệ quyền công dân lẽ ra phải bảo vệ quyền kết hôn của người đồng tính thì lại cho rằng, hôn nhân là đặc quyền của người dị tính. Cuối cùng thì chỉ có phong trào đòi quyền công dân xảy ra hỗn loạn và dữ dội vào những năm 60 là giành được một chút thắng lợi cho người đồng tính. Phong trào này vẫn tiếp tục diễn ra dù một số người chúng ta không thuộc đảng bảo thủ 3K (nhóm khủng bố có sau thời kỳ nội chiến, phản đối ý tưởng của chính quyền Lincol về việc chấm dứt chế độ nô lệ - ND), có thể đã hài lòng vì những thành tựu này. Trải qua lịch sử đầy những phân biệt, kỳ thị của Hoa Kỳ, ta có thể thấy việc phản đối sự bình đẳng rất có tổ chức của các lực lượng bảo thủ luôn có khuynh hướng ngăn cản các thành phần trong xã hội đồng thuận với nhau về việc, sự bình đẳng cho các nhóm thiểu số hay bị gạt ra ngoài lề xã hội là hết sức quan trọng. Người ta cũng cũng làm cho mọi người không hiểu được rằng, công bằng là một quá trình tiến tới bình đẳng mà toàn thể đất nước hướng tới.

Dù gì thì lịch sử cũng được viết bởi người chiến thắng và đầy rẫy định kiến. Hoặc là chúng ta sẽ chấm dứt điều đó bằng cách vứt bỏ định kiến với người đồng tính vào thùng rác lịch sử, nơi chứa tất cả các định kiến, phân biệt đối xử với người Mỹ gốc Phi, phụ nữ, người Mỹ - Ái Nhĩ Lan, người Mỹ gốc Do thái, người Mỹ gốc La tinh… hoặc chúng ta sẽ phải đối đầu với những điều mà cuối cùng rồi cũng sẽ thắng. Từ quan điểm của một nhà tâm lí, tôi cho rằng, quan điểm về đạo đức và phẩm hạnh chỉ có thể có lí và đúng đắn khi chúng được soi sáng bằng các dẫn chứng khoa học đáng tin cậy. Tôi cũng nghĩ rằng các bang vừa rồi đã phạm một sai lầm rất lớn và đáng tiếc khi quyết định cấm hôn nhân đồng giới. Sự cấm đoán này sẽ làm tổn thương đất nước, tổn thương những người có khuynh hướng tình dục đồng giới ở đất nước này chứ chẳng hề có tác dụng gì cả.

Tiến sỹ tâm lý học Mark Dombeck (mentalhelp.net)
Đinh Nhung dịch
Nguồn: Tâm Sự Bạn Trẻ