Quan điềm Công giáo:Tiếp nhận người ĐTLA

Quan điềm Công giáo:Tiếp nhận người ĐTLA

Chủ đề:

2728a- “…Phải tiếp nhận người đồng tính luyến ái với lòng thông cảm…”. Câu nói này của văn kiện “Persona humana” về đạo đức học tính dục (17) mời gọi ta hãy có một thái độ cởi mở đối với vấn đề đồng tính luyến ái.

Tiếp nhận người đồng tính luyến ái, đó là một chuyện đương nhiên, nếu nghĩ tới những đòi hỏi của Tin mừng: người đồng tính luyến ái (một thanh niên ít là trên 25 tuổi như ở Pháp chẳng hạn), cũng như bất cứ ai, cũng là người thân cận của chúng ta và vì thế có quyền được Hội thánh lắng nghe và đón tiếp. Bị xã hội khai trừ hoàn toàn ngoài ý muốn của mình, bị người khác chế nhạo, quấy nhiễu, phê phán một cách ác cảm, đôi khi bị biến thành nạn nhân để hù doạ, những người đồng tính luyến ái thường buộc lòng phải xếp mình vào số những người “bị khai trừ”, không có quyền sống chường mặt ra. Vì thế, Tin mừng của Đức Kitô – một tin mừng không chấp nhất những “nhãn hiệu” luân lý gán lên con người – được ưu tiên gởi tới những người đồng tính luyến ái.

Tuy nhiên, dù đã xác tín như thế, người ta vẫn cảm thấy hết sức lúng túng không biết phải có thái độ nào đối với một người tự nhận là đồng tính luyến ái và còn hơn thế nữa. Phải nhận định luân lý thế nào đây? Những cuộc tranh luận hăng say chung quanh văn kiện của giáo triều Rôma (“Persona humana”) là dấu chứng tỏ sự lúng túng của các nhà luân lý. Vì thế, tôi muốn nêu ra đây một vài điểm mốc để hướng dẫn các Kitô hữu khi muốn giúp đỡ và lắng nghe những người đồng tính luyến ái. Tôi sẽ cố gắng tránh óc cha chú tỏ lòng tội nghiệp cho những người đồng tính luyến ái, cũng như tránh sự ngây thơ quá dễ dàng chấp nhận họ, chấp nhận một cách vô điều kiện, nhưng tôi sẽ cố gắng chỉ ra những sai lầm cần tránh và những thái độ cần cổ võ.

1. Một vài sai lầm cần tránh

* Sai lầm thứ nhất: để mình bị lôi cuốn bởi vấn đề được đặt ra

Sự lôi cuốn này không phải lúc nào cũng tránh được dễ dàng. Nó biểu lộ qua ngôn ngữ. Như khi nói: “đó là một người đồng tính luyến ái”, ta đã gián tiếp cho thấy dường như mình không biết gì về những điểm khác trong con người của anh, mà chỉ chú ý tới khuynh hướng tính dục ngoại lệ của anh. Để tránh thái độ này, Lời Chúa sẽ giúp ta rất nhiều. Quả vậy, Tin mừng luôn luôn nhìn con người trong sự toàn diện và kêu gọi ta đừng xét đoán dựa theo vẻ bề ngoài. Theo gương Đức Giêsu, chúng ta phải tiếp nhận toàn bộ cuộc sống của người đồng tính luyến ái với tất cả mọi chiều kích của nó như mặt tâm linh, xã hội, văn hoá,v.v…

Điều này rất quan trọng, vì chính điều kiện xã hội mà người đồng tính luyến ái phải chịu đã đẩy người ấy dành nhiều chỗ hơn mức bình thường cho những vấn đề tính dục, và cuối cùng làm trò cho xã hội. Chính đức tin Kitô giáo chúng ta bắt ta phải tránh gán nhãn hiệu cho họ một cách quá vội vã, hãy tâp đặt mình đứng trước những con người trong toàn bộ sự thật của họ để thấy rằng họ có nhiều điểm giống chúng ta, cho dù khuynh hướng tính dục của họ đã làm cho toàn bộ cuộc sống của họ có một sắc thái hết sức đặc biệt.

* Sai lầm thứ hai: đơn giản hoá thực tại

Chúng ta luôn luôn có một cái nhìn quá đơn giản về hiện tượng đồng tính luyến ái, đang khi đây lại là một hiện tượng hết sức phức tạp. Cần phải lắng nghe mỗi người đồng tính luyến ái trong ước muốn cá biệt của họ, dù họ cũng có một số điểm giống như mọi người. Phải lưu ý phân biệt người đồng tính luyến ái độc thân (chiếm chừng 84%) (19) và người đồng tính luyến ái đã kết hôn (chiếm chừng 16%); phân biệt những người đồng tính luyến ái sống thành vợ chồng (40%) và những người đồng tính luyến ái chung chạ với rất nhiều người trong vấn đề tính dục; phân biệt người đồng tính luyến ái mang nặng mặc cảm tội lỗi (7-8%%) và người đồng tính luyến ái chấp nhận tình trạng ấy v.v… Những điểm mốc cụ thể của đạo đức học cho mỗi loại vừa kể không hoàn toàn giống nhau.

Đơn giản hoá thực tại còn là xét đoán vấn đề chỉ thông qua những người đã cho ta biết khuynh hướng ấy. Thế mà nên nhớ rằng những người cảm thấy có nhu cầu tâm sự với chúng ta thường là những người không đảm nhận được hoàn cảnh của mình một cách tốt đẹp: khuynh hướng đồng tính luyến ái nơi những người ấy thường liên kết một cách phức tạp với những hiện tượng thần kinh bệnh hoạn. Vì thế họ không phải là lớp người tiêu biểu cho toàn bộ những người đồng tính luyến ái. Có khá nhiều người đồng tính luyến ái tự nhận (một cách đáng tin) rằng mình hạnh phúc và tìm được sự quân bình trong tình trạng đó.

Sau cùng đơn giản hoá thực tại là đem hết tất cả những phạm trù luân lý của những người dị tính luyến ái áp dụng cho những người đồng tính luyến ái. Thế mà những người này không ngớt nhắc nhở chúng ta rằng không phải tất cả mọi chuẩn mực dành cho những người dị tính luyến ái đều có thể áp dụng y nguyên cho họ. Chẳng hạn có 44% Kitô hữu đồng tính luyến ái tuyên bố rằng “họ không có khả năng giữ cho khỏi những hành vi đồng tính luyến ái một cách đều đặn” (20). Dạy cho họ biết tiết dục xem ra không thực tế. Theo họ, làm như vậy là không xét đến bản năng sinh dục của họ thường có khuynh hướng cưỡng bách. Cũng thế, không thể lấy mô hình vợ chồng dị tính luyến ái để xem xét một cặp đồng tính luyến ái. Trong số 75% các trường hợp các cặp đồng tính luyến ái thường tỏ ra rất thiếu ổn định, vì những lý do vừa có tính xã hội vừa có thuộc về tâm lý. Hai chữ “trung thành”, hiểu theo nghĩa thông thường của từ ngữ, thường bị cho là vượt quá khả năng của những người đồng tính luyến ái. Hai thí dụ trên đây đã cho thấy nhà luân lý sẽ lúng túng thế nào, khi tìm cách thiết lập những chuẩn mực vừa hợp với Tin mừng vừa có thể thực hiện được đối với những người có liên hệ. Nhà luân lý phải bắt đầu công việc nghiên cứu bằng cách để mình bị chất vấn trước nét mới mẻ lạ lùng của hiện tượng đồng tính luyến ái và phải dần dần gỡ mình ra khỏi những thiên kiến, khỏi những ý tưởng tiên thiên.

* Sai lầm thứ ba: sợ không dám tham chiếu các chuẩn mực khách quan

Thị hiếu đôi khi cũng làm tê liệt các phán đoán luân lý của ta. Có người bảo: trong lãnh vực tính dục và tình cảm, không hề có những chuẩn mực ổn định; mọi cố gắng so sánh tình trạng đồng tính luyến ái và tình trạng dị tính luyến ái đều chỉ là một cách tự vệ, một cách hợp lý hoá để giữ mình khỏi những xung lực đồng tính luyến ái nơi mình;hoặc đó chỉ là cách lý luận mang tính “tiểu tư sản” muốn giữ cho cơ chế xã hội được ổn định để bắt nạt vợ hay chồng (21). Đành rằng nại đến các chuẩn mực luôn luôn có nguy cơ là chạy theo một ý thức hệ và vô tình phục vụ cho chính người đưa ra ý kiến đó. Nhưng cũng đừng vì đó mà rơi vào chủ nghĩa tương đối. Trong lãnh vực nào của cuộc sống, chúng ta cũng nại đến các chuẩn mực để phê phán một lối ứng xử. Như trong lãnh vực sức khoẻ, quan hệ nhân bản, sinh hoạt chính trị,v.v… Nếu vậy, tại sao phải làm khác trong lãnh vực tính dục?

Hãy làm một phép loại suy: không ai phản đối khi nghe ta bảo rằng mù là một sự thiếu hụt khách quan khả năng trông thấy. Sở dĩ thế là vì ai cũng nhìn nhận rằng thấy là một điều vô cùng quí giá, mắt được tạo ra là để trông thấy, nhưng người mù không phải là người thấp kém hơn mọi người do bị thiếu hụt như thế. Ngược lại, đôi khi sự mù loà có thể trở thành cơ hội cho nạn nhân làm phong phú các giác quan khác, cơ hội đào sâu đời sống nội tâm. Tắt một lời: cơ hội được lớn lên dù mù loà là biểu hiệu của một sự đau khổ khách quan.

So sánh trên đây sẽ giúp các bạn nắm được những sự tinh tế trong ý kiến của tôi về việc đồng tính luyến ái. Theo tôi, khuynh hướng đồng tính luyến ái là một sự giới hạn khách quan so với khuynh hướng dị tính luyến ái. Giới hạn này, thay vì làm cho người đồng tính luyến ái bớt là người đi, có thể được người ấy đảm nhận và điều khiển một cách tốt đẹp tới mức trở thành cơ hội cho người ấy phát triển nhân cách là một người đàn ông và là một tín hữu. Nếu vậy, người đồng tính luyến ái với toàn bộ đời sống của mình có thể trở thành dấu chỉ cho người dị tính luyến ái nào đang lạm dụng những cái hay cái đẹp trong định hướng tính dục của mình.

Nhưng tại sao nói đó là một giới hạn? Chúng ta thử giải thích bằng một số dấu hiệu: trước hết là không có khả năng làm cha – một điều mà những người đồng tính luyến ái cảm nhận một cách rất đau đớn (35% trong số những người đồng tính luyến ái được hỏi đều tỏ ý ao ước nhận con nuôi); thứ đên, nơi nhiều người đồng tính luyến ái có sự bất ổn rất lớn về mặt tình cảm, hay lý tưởng hoá một cách quá đáng người bạn của mình. Rất tiếc chính xã hội đã tạo điều kiện cho sự bất ổn định ấy khi buộc họ phải lén lút và từ đó cản trở họ cố gắng sống trung thành. Một số người khác bị thúc đẩy rất mạnh trong các biểu hiện sinh dục, đến nỗi họ có cảm tưởng rằng mình không có đủ tự do khi đứng trước những sự thúc đẩy ấy (22). Thêm vào đó là sự không thông cảm của xã hội, khiến cho đồng tính luyến ái trở thành một con đường sống hết sức khó khăn. Ta hãy nghe tâm sự của một người đồng tính luyến ái – một trong những người rất am tường giới đồng tính luyến ái tại Pháp: “… (Đồng tính luyến ái) là con đường hẹp hơn cả, khó khăn và dốc dác hơn cả. Thế mà bạn lại muốn các thanh thiếu niên như những người viết thư cho tôi đây và những người kêu cứu từ mọi miền trên nước Pháp hãy chọn con đường đó một cách vui vẻ, chỉ vì họ cô đơn và e ngại mình không được nếm hạnh phúc?”. Đó là ý kiến của ông Beaudry, phát biểu trước 19 triệu khán giả truyền hình. Ông là người chịu trách nhiệm của phong trào đồng tính luyến ái Arcadie, đã nhận được tâm sự của hàng ngàn người đồng tính luyến ái (23).

Khi bảo rằng khuynh hướng đồng tính luyến ái là một giới hạn, tôi e ngại sẽ bị hiểu lầm là đã cho rằng người dị tính luyến ái mới là người có đầy đủ mọi khả năng của tính dục. Người dị tính luyến ái chẳng khác nào ông nhà giàu ở bên cạnh anh nhà nghèo. Thật ra, không hề có tính dục nào là hoàn hảo. Mỗi người đều phải chịu một số thiếu sót quan trọng nhiều hay ít trong đời sống giới tính của mình. Có người không thể thiết lập một quan hệ sâu xa với vợ hay chồng mình; người khác thì vô sinh hay bất lực hoặc xuất tinh sớm; có người lại thất thường… Khi nói đồng tính luyến ái là một sự giới hạn về tâm lý và tính dục, ta muốn trước hết nhìn vào những thiếu sót riêng của tình trạng này. Nhưng nói thế cũng là phải biết thắc mắc về trường hợp của những người đồng tính luyến ái đã tận dụng những thiếu sót đó để xây dựng chính nhân cách của mình. Thái độ của chúng ta là phải đi xa tới mức đó, tới mức sẵn sàng đón tiếp những người đồng tính luyến ái.

* Sai lầm thứ tư: bóp méo Lời Chúa

Mỗi khi có dịp tranh luận về việc đồng tính luyến ái, các Kitô hữu luôn luôn nại đến Kinh thánh. Nhiều người cho rằng đã tìm ra câu trả lời cho vấn đề này, bằng cách nối kết các câu Thánh kinh lên án mạnh mẽ việc đồng tính luyến ái. Kinh thánh không thiếu những câu này (24). Rồi người ta tự cho là khỏi cần nghiên cứu vấn đề sâu xa hơn nữa. Tôi cho rằng làm thế là vấp phải hai sai lầm. Trước hết là tách vài câu Kinh thánh ra khỏi toàn bộ của nó; rồi chuyển cái nhìn của các tác giả Kinh thánh về việc đồng tính luyến ái thời ấy sang cho hiện tượng đồng tính luyến ái ngày nay, không một lời giải thích. Kỳ thực, các tác giả Thánh kinh không có sẵn những phương tiện phân tích như các khoa học nhân văn hiện nay sẵn sàng cung cấp cho ta. Chắc hẳn các tác giả ấy không thể phân biệt như chúng ta ngày hôm nay: nhiều người mang một cơ cấu đồng tính luyến ái thật sự, không do tự ý họ lựa chọn, nhưng có lẽ do bẩm sinh hay ít ra (và đúng hơn) đã tiếp nhận khi còn nhỏ.

Đặc biệt, quan điểm của các tác giả Thánh kinh không phải là khoa học hay mục vụ. Các vị chỉ cố gắng nhìn các thực tại của con người trong tương quan với chương trình của Thiên Chúa về thế giới. Các vị ấy tin rằng quan hệ không tốt với Đấng Tạo Hoá sớm hay muộn cũng sẽ đưa tới chỗ quan hệ không tốt với các thụ tạo. Niềm xác tín này cũng áp dụng cho cả tính dục, một thực tế được Thiên Chúa tạo dựng. Chính vì thế, trong các bản văn Kinh thánh mỗi khi nói tới việc đồng tính luyến ái người ta luôn luôn nghĩ tới tội thờ ngẫu tượng, một cách làm hỏng quan hệ giữa con người với Thiên Chúa. Đang khi đó đại đa số Kitô hữu đồng tính luyến ái hiện nay không làm các hành vi ấy như những hành vi tôn thờ ngẫu tượng. Thậm chí nhiều người còn cho rằng tình trạng đồng tính luyến ái của họ bắt họ phải thanh lọc cái nhìn về Thiên Chúa và vì thế góp phần đưa họ xích lại gần Thiên Chúa thật (25).

Như thế, Kinh thánh không lên tiếng về trách nhiệm luân lý của cá nhân người đồng tính luyến ái. Kinh thánh chỉ nhắc nhở chúng ta rằng đứng về mặt đạo đức mà xét chúng ta không thể xếp khuynh hướng đồng tính luyến ái và khuynh hướng dị tính luyến ái ngang bằng nhau. Khuynh hướng dị tính luyến ái được trình bày ở nhiều chỗ trong Kinh thánh là điều Thiên Chúa nhắm tới khi “tạo dựng con người có nam có nữ”. Đang khi đó, khuynh hướng kia – khuynh hướng đồng tính luyến ái – được coi là một điều không nằm trong kế hoạch sáng tạo của Thiên Chúa, một cách làm xáo trộn ở chính nơi Thiên Chúa đã cố ý phân định rạch ròi, ta có thể khẳng định mà không sợ sai lầm rằng theo Kinh thánh các hành vi đồng tính luyến ái biểu lộ rõ một sự giới hạn khách quan khá nghiêm trọng. Vì thế, toàn bộ vấn đề đối với một Kitô hữu đồng tính luyến ái là làm sao điều khiển cách thế thực hành tính dục đặc biệt của mình dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Cộng đoàn Kitô hữu phải giúp đỡ đương sự tìm ra con đường ấy. Đó cũng chính là lý do tại sao dưới đây tôi sẽ giới thiệu một vài thái độ cần cổ võ để đồng hành với người đồng tính luyến ái.

2. Một vài thái độ có thể có đối với người đồng tính luyến ái

* Thái độ thứ nhất: Chỉ mời gọi làm những gì có thể làm được
Đây là lãnh vực mà những người dị tính luyến ái phải biết nghi ngờ những ý kiến của mình nhiều hơn hết, vì kinh nghiệm tính dục của mình khác hẳn kinh nghiệm của nhân vật chúng ta đang lắng nghe. Ước muốn và lo sợ của những người dị tính luyến ái cũng khác. Vì thế, phải tránh mọi yêu cầu nào có thể làm cho đương sự lo âu và rơi vào những tội lỗi nguy hiểm, mà người ấy vừa mới thoát được hay đã gặp rất nhiều khó khăn để vượt qua.

Chẳng hạn, yêu cầu mọi người đồng tính luyến ái không phân biệt phải lo “chữa trị” về mặt thể xác lẫn tâm lý vì tình trạng đồng tính luyến ái là một sai lầm rất lớn về nhiều mặt. Trước hết về mặt khoa học, những biện pháp gọi là “điều trị” hầu như chẳng bao giờ công hiệu để giúp lái bản năng tính dục của đương sự theo một chiều hướng khác, ngoại trừ một số trường hợp đồng tính luyến ái giả tạo – một điều không thể nhận ra (26). Rồi về mặt tâm lý, 80% người đồng tính luyến ái không muốn thay đổi cách sống tính dục của mình: càng cảm thấy mình đã được bố trí như thế, họ càng có cảm tưởng như đã thay đổi cả con người khi đòi thay đổi hướng sử dụng dục tính. Sau cùng, đừng quên rằng hoàn hảo về mặt nhân bản, nghĩa là không bị thiếu sót điều gì, không đương nhiên là đã nên thánh. Thiên Chúa có khả năng loan Tin mừng cả qua cơ cấu đồng tính luyến ái của một người.

Như vậy, những ai đồng hành với người đồng tính luyến ái phải liệu có lòng kiên nhẫn, biết chấp nhận những sự uyển chuyển trong các chuẩn mực (27). Chẳng hạn, phải biết người đồng tính luyến ái khó tiết dục hơn người dị tính luyến ái. Bởi đó sự cưỡng bức mãnh liệt nơi những người đồng tính luyến ái đôi khi bó buộc họ phải chấp nhận “đi kiếm bạn” (28), dù về mặt đạo đức điều đó xem ra không thoả đáng chút nào. Đàng khác, “đi kiếm bạn” cũng là một cách ứng xử có hai giá trị. Thường chỉ đem lại thất vọng, nhưng cũng có khi đó là cơ hội để đương sự tìm được sự thư giãn thần kinh, hoặc có được những cuộc tiếp xúc nghiêm túc, mà về lâu về dài đã tỏ ra là có giá trị xây dựng.

Thay vì kêu gọi người đồng tính luyến ái tiết dục ngay lập tức và ngừng mọi cuộc tìm kiếm bạn ngay tại chỗ (một điều mà thông thường hầu như không thể làm được đối với họ), ta sẽ giúp họ suy nghĩ về cách sống của họ trước mặt Chúa để thay đổi dần. Yêu cầu họ tìm ra một cách nào đó để làm chủ các xung lực ấy hay để họ hành động theo những ước muốn tính dục khác nhau? Họ cần phải tỏ ra kính trọng bạn của mình như thế nào? Các người bạn này có phải chỉ là những đối tượng phục vụ họ hay cũng được coi là những chủ thể?

Như đã thấy, cần phải xét đến nhân cách toàn diện của đương sự. Chỉ dán mắt nhìn vào những biểu hiện tính dục của đương sự là một sai lầm. Trái lại, nhiệm vụ ưu tiên của ta là giúp họ tìm lại niềm vui sống, phẩm giá, sự liên kết với người khác, dù để được vậy ta phải nhân nhượng nhiều sự vấp váp của họ trong tính dục. Nhưng nếu xoá tội một cách tiên thiên, không phân biệt, cho hết mọi hành vi tính dục, là ta đã không coi trọng sự tự do của họ, quên rằng như bao người, kẻ đồng tính luyến ái cũng là tội nhân và cũng cần ơn tha thứ của Chúa.

* Thái độ thứ hai: vạch trần những tội giả tạo

Những người đồng tính luyến ái đến tham khảo với chúng tôi thường cảm thấy tội lỗi rất sâu sắc sau khi có những hành vi tính dục hay ít ra cảm thấy rất hoang mang bối rối về tầm mức của những hành vi ấy, trước mặt Chúa và lương tâm. Cần phải cùng với họ làm công việc nhận định kỹ lưỡng trong những trường hợp đó. Đôi khi ý thức tội lỗi của họ có vẻ do bị bệnh thần kinh. Trong những trường hợp này có lẽ phải khuyên họ điều trị tâm lý. Nhiều khi đương sự lẫn lộn tâm trạng day dứt (thuộc phạm vi tâm lý) với tội lỗi (thuộc phạm vi thần học). Người đồng tính luyến ái cần biết có khi không lỗi phạm tình yêu với Chúa nhưng lại thấy sự dày vò của siêu ngã rất mãnh liệt.

Người đồng tính luyến ái sẽ phải tập có kinh nghiệm đó. Nhờ những khó khăn về tính dục ấy họ có thể dần dần thanh lọc được mối quan hệ của họ với Chúa. Những khó khăn về tính dục, nếu được đặt đúng vị trí, sẽ giúp họ khám phá ra mình là thụ tạo bị giới hạn, không luôn luôn làm chủ được chính mình, nhưng Thiên Chúa không phải là người cha lúc nào cũng sẵn sàng “yêm hoạn” chúng ta. Dù có thể có người cảm thấy lạ lùng, nhưng rất nhiều người Kitô hữu đồng tính luyến ái, từ khuynh hướng tính dục đặc biệt và khó điều khiển nơi mình, đã khám phá được thế nào là ý nghĩa câu nói trong thư Gioan: “Thiên Chúa là tình yêu”.

* Thái độ thứ ba: giúp họ tránh phản ứng co cụm khép kín

Đừng quá ngây thơ! “Ở đâu có con người, ở đấy có tính người”, như lời của Phanxicô Salesiô. Điều này đúng cả trong giới đồng tính luyến ái cũng như trong các môi trường khác. Trước những phản ứng của xã hội, người đồng tính luyến ái thường có khuynh hướng lập bầy lập nhóm với những người cùng chung tình trạng. Phản ứng co cụm khép kín ấy, kéo theo cả một ý thức hệ, là một cám dỗ thường xuyên với những người đồng tính luyến ái. Vì thế, giúp đỡ người đồng tính luyến ái cũng là giúp họ biết lùi xa phản ứng ấy.

Tôi không có ý bảo rằng người đồng tính luyến ái phải trốn tránh những người giống mình. Ngược lại, đối với nhiều người (không phải đối với tất cả) đôi khi tụ tập chung với những người đồng tính luyến ái khác là một điều rất hữu ích, vì trong các buổi họp mặt đó mỗi người có thể sống trọn vẹn sự thật mình. Nhưng với điều kiện phải giữ sự sáng suốt. Tôi hay có dịp nghe một số người đồng tính luyến ái đưa ra những lời để bào chữa trước mọi hành vi tính dục của mình, kể cả những hành vi trác táng, bênh vực cho một thứ giải phóng tình dục cách giả tạo, phê bình các ý kiến của Giáo hội, phóng đại sự “bách hại” do những người dị tính luyến ái gây ra…

Ta có thể hiểu được tất cả những phản ứng đó, nhưng cũng cần phải đối chiếu chúng với những đòi hỏi của Tin mừng: Tin mừng luôn mời gọi ta tìm đến với sự thật và không ngừng vượt qua những ranh giới giả tạo. Chính vì thế, nên mời gọi người đồng tính luyến ái đừng tụ tập chỉ với những người đồng tính luyến ái khác (29), nhất là trong các việc liên quan đến Kitô giáo. Cũng nên tạo điều kiện sao cho họ có thể liên kết với mọi người đang đấu tranh cho xã hội hưởng ứng các giá trị Tin mừng, qua các phong trào nghiệp đoàn, chính trị và Giáo hội. Tuy nhiên, muốn vậy, những người dị tính luyến ái phải bỏ thái độ quá quắt, cười nhạo, xét đoán, nếu chợt khám phá thấy người bên cạnh mình là người đồng tính luyến ái.

Phải khuyên những người đồng tính luyến ái là đừng chờ cho đến khi được đón tiếp mới nhận lãnh các trách nhiệm trong xã hội hay Giáo hội. Thật vậy, kinh nghiệm cho thấy: nếu đã làm cho người khác nhận ra mình là người nghiêm túc thế nào trong đức tin và việc làm trước khi bị khám phá là đồng tính luyến ái, thì có hy vọng rằng người chung quanh sẽ dễ dàng thông cảm với tình trạng ấy hơn khi phát hiện thấy.

* Thái độ thứ tư: giúp đảm nhận sự cô đơn

Người đồng tính luyến ái chưa kết hôn, cũng như người dị tính luyến ái còn độc thân, đều có kinh nghiệm về sự cô đơn. Nhưng người đồng tính luyến ái thường cảm nhận điều ấy một cách đau đớn hơn, vì lối cư xử của họ quá ngoại lệ và vì nhu cầu cần tìm kiếm tình yêu nơi họ mãnh liệt hơn. Về điểm này ta rất nên lắng nghe các lời chứng. Người đồng tính luyến ái sẽ tìm cách tạo ra các tình bạn, thậm chí các quan hệ yêu đương nữa, để chạy trốn sự cô đơn có sức tàn phá ấy và để cho việc tìm kiếm tình cảm của mình trở nên có nghĩa lý. Một số người đã thử sống thành từng cặp, dù biết rõ rằng việc ấy chỉ kéo dài một thời gian (30).

Phải có thái độ nào trước tình hình đó? Trước hết, phải nhìn thực tế một cách nghiêm túc. Ta phải nhìn nhận rằng sống kinh nghiệm đồng tính luyến ái không phải chỉ là một cách thoả mãn ức chế sinh dục, như ta thường nghe nói. Thật ra, việc đồng tính luyến ái cũng thường đẻ ra những quan hệ có rất nhiều giá trị. Làm sao quên được điều đó? Làm sao không nhìn nhận rằng đã có nhiều người trưởng thành nhờ kinh nghiệm sống thành cặp, dù các quan hệ này vẫn còn chứa đựng nhiều giới hạn? Làm sao lại bắt những người đang cố gắng đi tìm sự quân bình, lúc được lúc không, quay về với sự cô đơn tai hại ấy?

Nhưng phải thú nhận: số người có thể thăng hoa nhưng xung lực nơi mình và sống tình bạn trong sự tiết dục là rất ít. Muốn được như thế, phải có một sức mạnh nội tâm và một sự quân bình tâm lý sâu xa – những điều không phải là dễ gặp – nhất là nơi những người đồng tính luyến ái đến xin ta giúp đỡ. Ở đây, một lần nữa, thay vì áp lực và thiếu thực tế khi mời gọi họ làm những điều không thể, ta hãy xin các cặp đồng tính luyến ái ấy đọc Tin mừng kỹ hơn với những tiếng gọi của Tin mừng: tình bạn của chúng tôi có cởi mở ra cho người khác không? Tôi có chấp nhận biến chuyển hay chỉ muốn dừng lại trong những cung cách cư xử đã sáo mòn cũ kỹ? Tôi có chấp nhận nghe Giáo hội nhắc nhở rằng đồng tính luyến ái không bao giờ có thể được coi là một lý tưởng? Người đồng tính luyến ái có quan tâm mở rộng sự tự do của người khác không?

Như vậy, tiếp nhận một người đồng tính luyến ái làm Kitô hữu không phải là chuyện dễ. Trước hết, ta phải chấp nhận hiện tượng đồng tính luyến ái làm ta thật bất ngờ. Chỉ nhờ lắng nghe những người đồng tính luyến ái tâm sự nhiều, ta mới dần dần tìm ra thái độ đối xử thích hợp. Không thể mô tả thái độ này thành những công thức máy móc. Vả lại, người đồng tính luyến ái cũng không đòi ta những công thức xử lý. Họ cần có một người anh em trên đường đời của mình, làm chứng cho họ thấy Thiên Chúa luôn đón tiếp họ cũng như cho họ biết những đòi hỏi của tình yêu. Muốn thế, đôi khi phải biết nói cương quyết và nói thật. Ngoài ra, người đồng tính luyến ái còn muốn ta nhìn nhận họ cũng là người anh em có thể làm chứng cho ta về Thiên Chúa – một Thiên Chúa đã dựng nên ta có nam có nữ và biết ta được nhồi nắn bằng gì.
 

 

Tác giả: Xavier Thévenot
dunglac.org
  

Góp ý trực tiếp của bạn:

------------------------
Ghi chú:

(17) Thánh bộ giáo lý đức tin, “Tuyên ngôn về một số đạo đức tính dục” – “Persona humana”, DC 1976, số 1691,8.
 

Bản văn này lưu ý ta phải phân biệt đồng tính luyến ái tạm thời và đồng tính luyến ái vĩnh viễn. Văn kiện cũng mong ước các người đồng tính luyến ái được tiếp đón với sự thông cảm, tội của họ được xét xử một cách khôn ngoan thận trọng. Nhưng văn kiện mạnh mẽ khẳng định rằng “theo trật tự luân lý khách quan, các quan hệ đồng tính luyến ái là những hành vi không tuân theo qui luật căn bản và thiết yếu”, nghĩa là thiếu những chiều kích quan trọng. Sau cùng, văn kiện nhắc lại sự kết án của Thánh kinh “không cho phép ta kết luận rằng tất cả những người bị chứng tật bất bình thường này đều phải chịu trách nhiệm về những hành vi đó”

(18) Ở đây tôi chỉ muốn nói tới những người đồng tính luyến ái thuộc nam giới vì đây là đối tượng tôi biết rõ hơn. Tuy nhiên, thiết tưởng những suy tư này cũng có thể áp dụng cho hết mọi người đồng tính luyến ái. Dầu sao, tôi xin gác sang một bên những người loạn dâm với trẻ em, tức là những người đàn ông bị thu hút đặc biệt bởi những trẻ em chưa dậy thì hay vừa mới dậy thì. Những người này đặt ra những vấn đề hết sức đặc biệt mà khuôn khổ chương này không cho phép ta bàn tới. Theo một bản điều tra mới đây, số người này ở Pháp chừng 13.000 (Cf. tạp chí “Arcadie”, 1976,276, p.652.

(19) Những con số này lấy từ một bản điều tra với 1034 thành viên của “Phong trào đồng tính luyến ái tại Pháp”. Acardie: M. Bon và A. D’Arc, “Rapport sur l’homosexualité de l’homme”, éd. universaires, 1974, 525 trang.

(20) Một thiên điều tra không xuất bản do tôi thực hiện với 350 người Kitô hữu đồng tính luyến ái vào năm 1976 để làm luận văn tiến sĩ thần học, đã được bảo vệ tại Học viện Công giáo Paris năm 1980.

(21) Về vấn đề này, có thể đọc: B. HOCQUENGHEM, “Le désir homosexuel”, éd. univ., 1972,124 trang.

(22)Theo bản điều tra của tôi, cứ ba người đồng tính luyến ái thì có một người nói rằng “những hành vi đồng tính luyến ái của tôi không thật sự là những hành vi tự do, vì chúng cưỡng bách mạnh hơn tôi nữa.

(23) A. JAMMOT, ”Les homosexuels aux dossiers de l’écran”, R. LAFFONT, 1975, p.68.

(24) St 19; TI 19; Lv 18,22 và 20,13; Rm 1,26; 1Cr 6,9-10; 1 Tm 1,9-10; Kh 21,8; 22,15.

(25) 39% người Kitô hữu đồng tình luyến ái mà tôi đã điều tra cho rằng “trong thực tế cụ thể và nói một cách tổng quát, tình trạng đồng tính luyến ái của họ đã giúp họ xích lại gần Chúa”.
 

(26) Về vấn đề “điều trị” những người đồng tính luyến ái giả tạo, xem M. Bon, “Dévelopement personnel et homosexualité”, Epi 1975, ch. 6.

(27) Về vấn đề này, xem lời chú giải văn kiện “Persona humana”, do cha O. CAPONE trong DC ngày 7.3.1976, 1693, p.216.

(28) Khi nói “đi tìm” (“drague”, theo ngôn ngữ của giới này), ta phải hiểu đó là sự tìm kiếm (không phải trả bằng tiền) một người để có quan hệ tình dục và nếu được, để có những quan hệ về sau nữa. Người ta thường “đi tìm” những đối tượng ấy ở các nhà vệ sinh công cộng và ở nhiều chỗ khác như công viên, các khu rừng gần thành phố, các nhà tắm hơi, “các hộp đêm dành riêng”, v.v… Hiện tượng này khác với đĩ điếm, tương đối ít quan trọng hơn.

Theo bản điều tra của tôi, cứ 2 người Kitô hữu đồng tính luyến ái thì có một người cho biết mình thay đổi bạn nhiều lần trong năm. Cứ 7 người thì có một người cho biết mình thay đổi bạn hằng tuần.

(29) Tại Pháp có một phong trào của các Kitô hữu đồng tính luyến ái. Phong trào mang tên “Đavít và Gionathan”, qui tụ các Kitô hữu thuộc nhiều Giáo hội khác nhau. Phong trào không đòi được các Giáo hội ở Pháp công nhận chính thức. Các cuộc họp của phong trào giúp các thành phần tham dự khám phá ra một điều là người ta có thể gặp Chúa Kitô qua cơ cấu đồng tính luyến ái, người ta vẫn là thành phần đầy đủ của Giáo hội. Về mặt này, dù có những điều phải dè dặt đã nói trên đây, quả thật, trong một số trường hợp, các cuộc họp ấy đã đóng vai trò khá

Phản hồi của bạn đọc

The content of this field is kept private and will not be shown publicly.